A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đề tài đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở năm học 2014 - 2015 của thầy Đố Thanh Nhật

Ở bất cứ Nhà trường nào cũng đều có hiện tượng học sinh chưa ngoan. Nó không những ảnh hưởng đến công tác giáo dục của Nhà trường mà còn là nỗi lo của gia đình và xã hội. Nghiêm trọng hơn là nó ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân học sinh đó trong hiện tại và tương lai.

 

MỤC LỤC

Trang

 

I.

TÓM TẮT ĐỀ TÀI……………………………………………

3

II.

GIỚI THIỆU…………………………………………………..

3

1.

Hiện trạng………………………………………………………

3

2.

Giải pháp thay thế………………………………………………

4

3.

Một số đề tài gần đây…………………………………………...

5

4.

Vấn đề nghiên cứu……………………………………………...

5

5.

Giả thuyết nghiên cứu………………………………………….

5

III.

PHƯƠNG PHÁP……………………………………………...

5

1.

Khách thể nghiên cứu…………………………………………..

5

2.

Thiết kế nghiên cứu…………………………………………….

5

3.

Quy trình nghiên cứu…………………………………………...

6

4.

Đo lường và thu thập dữ liệu…………………………………...

7

IV.

PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ……….

7

1.

Trình bày kết quả……………………………………………….

7

2.

Phân tích dữ liệu………………………………………………..

7

3.

Bàn luận………………………………………………………...

8

 

BỔ SUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU NĂM HỌC 2014-2015

9

V.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ…………………………...

10

1.

Kết luận………………………………………………………...

11

2.

Khuyến nghị……………………………………………………

11

VI.

TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………….

12

VII.

PHỤ LỤC……………………………………………………...

13

 

Bảng theo dõi học sinh vi phạm………………………………..

13

 

BỔ SUNG PHỤ LỤC ĐỀ TÀI NĂM HỌC 2014-2015……...

17

 


ĐỀ TÀI

GIÁO DỤC VÀ RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC HỌC SINH                                CÁ BIỆT BẰNG BIỆN PHÁP QUAN TÂM, ĐỘNG VIÊN, GIÚP ĐỠ        Ở LỚP 4A, TRƯỜNG TIỂU HỌC NGÂN SƠN

 

I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI:

Ở bất cứ Nhà trường nào cũng đều có hiện tượng học sinh chưa ngoan. Nó không những ảnh hưởng đến công tác giáo dục của Nhà trường mà còn là nỗi lo của gia đình và xã hội. Nghiêm trọng hơn là nó ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân học sinh đó trong hiện tại và tương lai. Cụ thể là ảnh hưởng đến việc tiếp thu tri thức, nhận thức, làm hạn chế rất nhiều trong việc hòa nhập với tập thể lớp, bạn bè xa lánh, bị giáo viên - Tổng phụ trách Đội, giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm nhắc nhở, khiển trách, cảnh cáo… dẫn đến học sinh bị cô lập, mặc cảm, lạc lõng từ đó càng mặc cảm hơn. Vì thế nếu không được giáo dục uốn nắn kịp thời, đúng lúc sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.

Là giáo viên - Tổng phụ trách Đội của một trường có không ít học sinh “cá biệt”, mỗi em có những biểu hiện vi phạm khác nhau trong đó hiện tượng không vâng lời, ngỗ nghịch, thiếu lễ phép thường xuyên của một vài em đã gây ra những phản ứng mạnh với tập thể giáo viên trong Hội đồng Sư phạm và một số giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm trong giờ dạy như: giáo viên cáu gắt, tức giận ảnh hưởng đến việc truyền thụ tri thức; kết quả thi đua của tập thể lớp giảm sút…

Trước tình hình đó là giáo viên - Tổng phụ trách Đội tôi kết hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, Ban phụ trách Đội, Ban đại diện cha mẹ học sinh học sinh quan tâm, động viên, giúp đỡ học sinh, để giáo dục và rèn luyện đạo đức học sinh “cá biệt” trong Nhà trường.

Nghiên cứu được tiến hành trên hai em học sinh lớp 4A, Trường Tiểu học Ngân Sơn đó là Em: Phạm Phúc Lâm và Em: Nguyễn Anh Thái. Hai em được thực hiện giải pháp thay thế từ ngày 01/03/2014 đến ngày 26/03/2014. Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt: hành vi ngỗ nghịch, thiếu lễ phép, không vâng lời thầy cô của em Lâm và em Thái đã giảm rất nhiều. Điều đó chứng tỏ rằng việc giáo dục và rèn luyện đạo đức học sinh cá biệt bằng biện pháp quan tâm, động viên, giúp đỡ là có hiệu quả.

II. GiỚI THIỆU:

1. Hiện trạng:

Bậc Tiểu học luôn là bậc học quan trọng, là nền móng của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện con người về: đức, trí, lao, thể, mĩ. Trong đó giáo dục đạo đức nhân cách là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà trường để hình thành cho học sinh có lòng nhân ái, mang bản sắc của con người Việt Nam, biết kính trên nhường dưới, đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; hòa nhập vào cộng đồng cùng chung sống, học tập và lao động.

Giáo dục học sinh có ý thức đầy đủ về bổn phận của mình đối với mọi người, đối với cộng đồng và môi trường sống, tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật, các nội quy, quy định của Nhà trường, của Đội, Sao… Tuy nhiên trong quá trình giáo dục đi vào thực tiễn có những học sinh chúng ta xây dựng được đạo đức, nhân cách một cách dễ dàng và nhanh chóng. Nhưng cũng còn một số ít hoặc đôi ba em học sinh, chúng ta giáo dục rất khó khăn hoặc các em ấy không nghe theo sự giáo dục của thầy cô. Đây là những học sinh “cá biệt” về đạo đức: lười học, không học bài, làm bài, lấy cắp đồ dùng học tập của bạn, không vâng lời cả với giáo viên và người lớn tuổi, bắt nạn bạn bè và em nhỏ… tình trạng này là nỗi lo của mỗi gia đình, nhà trường và toàn xã hội, đây là vấn đề hết sức nghiêm trọng.

Là một giáo viên - Tổng phụ trách Đội trong Nhà trường trước tình trạng đó, với những nỗi băn khoăn, trăn trở, tôi nghiên cứu hai em học sinh “cá biệt” ở lớp 4A Trường Tiểu học Ngân Sơn. Nhằm đưa ra những phương pháp để cùng phối hợp với gia đình, nhà trường và xã hội để giáo dục những học sinh “cá biệt” đạt kết quả cao và đồng thời hạn chế đến mức tối thiểu học sinh “cá biệt” trong quá trình giáo dục.

Để giáo dục một con người có đầy đủ phẩm chất và năng lực là một vấn đề hết sức khó khăn và lâu dài, giáo dục học sinh “cá biệt” càng khó khăn và phức tạp hơn, ở đây đòi hỏi nhà giáo dục nói chung và người giáo viên phải có phương pháp giáo dục như thế nào? Đây là vấn đề nan giải vì nó tốn nhiều thời gian và công sức, người giáo viên và đặc biệt là Tổng phụ trách Đội trong Nhà trường phải có nghệ thuật Sư phạm, khéo léo, kiên trì, yêu thương học sinh, hiểu được đời sống tâm tư tình cảm của các em.

2. Giải pháp thay thế:

- Tìm hiểu hoàn cảnh sống: quan hệ gia đình, thành phần kinh tế (thuộc diện hộ gia đình: nghèo, cận nghèo, bình thường hay khá giả).

- Dành nhiều thời gian để gần gũi, tâm tình, chia sẻ những khó khăn cùng các em.

- Nắm được đặc điểm thể chất, tâm lý lứa tuổi, tình trạng sức khỏe để có định hướng giáo dục, phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn phân công giao việc cho phù hợp.

- Phân tích tình trạng học tập hay thái độ biểu hiện của các em.

- Thường xuyên liên lạc, kiểm tra thái độ, ý thức, chất lượng học tập.

- Phối hợp với Ban phụ trách Đội, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, Bạn đại diện phụ huynh học sinh, nhân viên bảo vệ để kịp thời nắm rõ tình hình học tập, các hành vi biểu hiện cũng như cùng có biện pháp phối hợp giáo dục hiệu quả.

3. Một số đề tài gần đây:

- Đề tài: “Nghiên cứu thực trạng giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học qua hoạt động ngoại khóa”. Tác giả: ThS. Vũ Minh Tuấn. 

- Đề tài: “Nghiên cứu về ảnh hưởng việc rèn luyện đạo đức học sinh cá biệt trong công tác chủ nhiệm’’. Tác giả: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt.

- Đề tài: Nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm hợp tác trong giải toán có lời văn ở lớp 5 Trường tiểu học Hiệp Hòa”. Tác giả: Đào Văn Chung.

Với những đề tài và các nguồn tài liệu khác nhau, thấy sự hiệu quả việc giáo dục thái độ, hành vi, cách ứng xử của các em trong đạo đức, tác phong, chuyên cần nên tôi đã tiến hành nghiên cứu theo ý tưởng đó của mình. Nhận thức ngày càng sâu sắc nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực và các giá trị đạo đức xã hội. Biến các giá trị đó thành ý thức, tình cảm, hành vi, thói quen và cách ứng xử trong đời sống hàng ngày.

4. Vấn đề nghiên cứu:

Việc giáo dục và rèn luyện đạo đức học sinh “cá biệt” ở lớp 4A bằng biện pháp quan tâm, động viên, giúp đỡ tại Trường Tiểu học Ngân Sơn có hiệu quả không?

5. Giả thuyết nghiên cứu:

          Giáo dục, rèn luyện đạo đức em Phạm Phúc Lâm và em Nguyễn Anh Thái lớp 4A bằng biện pháp quan tâm, gần gũi, động viên, giúp đỡ tại Trường Tiểu học Ngân Sơn sẽ khắc phục được tình trạng học sinh “cá biệt”.

III. PHƯƠNG PHÁP:

1. Khách thể nghiên cứu:

Tôi lựa chọn lớp 4A, Trường Tiểu học Ngân Sơn để nghiên cứu vì lớp có hai em học sinh là Phạm Phúc Lâm và Nguyễn Anh Thái. Đây là hai học sinh “cá biệt” về đạo đức thường xuyên có nhứng hành vi: lười học, không học bài, làm bài, lấy cắp đồ dùng học tập của bạn, thậm chí còn thiếu lễ phép cả với giáo viên và người lớn tuổi, bắt nạn bạn bè và em nhỏ…

2. Thiết kế nghiên cứu:

Để làm rõ vấn đề nghiên cứu tôi chọn Thiết kế đa cơ sở AB.

Trong đó:

          -Agiai đoạn cơ sở (hiện trạng chưa có tác động/can thiệp).

          -Bgiai đoạn tác động/can thiệp.

Trong đề tài này, giai đoạn cơ sở (A) đối với hai em Lâm và Thái là khác nhau. Giai đoạn cơ sở (A) đối với Lâm là 10 ngày nhưng đối với Thái là 15 ngày.

 

* MÔ HÌNH THIẾT KẾ ĐA CƠ SỞ AB.

GĐ cơ sở

 

 

GĐ bắt đầu nghiên cứu

 

 

GĐ cơ sở

 

 

GĐ bắt đầu nghiên cứu

 

 

 

3. Quy trình nghiên cứu:

Tôi ghi chép số lần không vâng lời và ngỗ nghịch của em Lâm trong 10 ngày trước khi bắt đầu tác động thông qua việc quan sát trực tiếp, báo cáo của Ban cán sự lớp, giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn; sau đó gần gũi, quan tâm, động viên giúp đỡ em Lâm thay đổi hành vi. Tôi tiếp tục ghi chép số lần không vâng lời và ngỗ nghịch của Lâm trong 16 ngày tiếp theo. Tôi cũng áp dụng biện pháp tương tự đối với em Thái nhưng thời gian quan sát là 15 ngày.

4. Đo lường và thu thập dữ liệu:

Công cụ đo lường mà nghiên cứu này sử dụng là số lần không vâng lời và ngỗ nghịch trong mỗi ngày của hai em Lâm và Thái được ghi nhận thông qua ban cán sự lớp, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, phụ huynh học sinh và đặc biệt là sự quan sát từ giáo viên - Tổng phụ trách Đội được thể hiện ở phần phụ lục.

IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ:

1. Trình bày kết quả:

* Số lần vi phạm bình quân lúc trước và sau tác động:

 

HỌ VÀ TÊN              HỌC SINH

TRƯỚC TÁC ĐỘNG

SAU TÁC ĐỘNG

Phạm Phúc Lâm

3,1 lần

1,18 lần

 

Nguyễn Anh Thái

2,66 lần

 0,63 lần 

 

 

2. Phân tích dữ liệu:

Số lần không vâng lời và ngỗ nghịch của học sinh được biểu thị dưới dạng đồ thị thể hiện thái độ của Lâm và Thái trong giai đoạn cơ sở và giai đoạn có tác động. Nếu thái độ không vâng lời và ngỗ nghịch của học sinh được khắc phục thể hiện đường biểu diễn thấp hơn đường đồ thị trong giai đoạn cơ sở.

Quan sát đường đồ thị cho thấy hai học sinh đã có những biểu hiện tích cực, hạn chế được số lần không vâng lời và ngỗ nghịch trong ngày.

Chúng ta hãy nhìn vào đồ thị biểu thị số lần không vâng lời và ngỗ nghịch của em Lâm, giai đoạn cơ sở kéo dài 10 ngày, Lâm trung bình mỗi ngày có thái độ không vâng lời và ngỗ nghịch khoảng 3,1 lần. Từ ngày thứ 10 trở đi số lần vi phạm của Lâm đã giảm rất nhiều, có ngày em còn không có vi phạm.

Tương tự chúng ta cũng nhìn vào đồ thị biểu thị số lần không vâng lời và ngỗ nghịch của em Thái, giai đoạn cơ sở kéo dài 15 ngày, Thái trung bình mỗi ngày có thái độ không vâng lời và ngỗ nghịch khoảng 2,66 lần. Từ ngày thứ 16 trở đi số lần vi phạm của Thái đã giảm rất nhiều, có ngày em còn không có vi phạm, đến ngày thứ 24, 25, 26 em không còn vi phạm.

Vậy chúng ta thấy bằng việc quan tâm, gần gũi, động viên, giúp đỡ trong thời gian ngắn đã có thể làm thay đổi hành vi không vâng lời và ngỗ nghịch của học sinh “cá biệt” một cách đáng kể.

3. Bàn luận:

Quan sát đường đồ thị cho ta thấy hai học sinh có sự thay đổi về những việc cần điều chỉnh của bản thân mình. Các em đã có những hành vi, thái độ, lời nói chính xác. Cả hai em đều đã thay đổi được hành vi, thái độ, lời nói của mình tốt hơn; biết vâng lời, lễ phép, không ngỗ nghịch, học bài, làm bài đầy đủ, không bắt nạt bạn bè và em nhỏ… trong giai đoạn sau tác động so với giai đoạn cơ sở.

Chúng ta hãy nhìn vào đường đồ thị biểu thị kết quả số lần vi phạm của em Lâm. Giai đoạn cơ sở kéo dài 10 ngày trong đó số lần vi phạm của em Lâm còn nhiều vi phạm bình quân 3,1 lần trong 1 ngày. Kể từ ngày thứ 11 trở đi thông qua tác động quan tâm, động viên, giúp đỡ để em xác định những việc mình cần điều chỉnh. Sau đó kết hợp với phụ huynh quan tâm, động viên, giúp đỡ thì em Lâm bắt đầu có sự thay đổi. Như chúng ta đã thấy sau khi bắt đầu tác động thì em Lâm dần dần có sự thay đổi về thái độ, hành vi, lời nói của mình và tiếp tục tác động thì em đã biết vâng lời, không ngỗ nghịch hằng ngày với thầy cô và bạn bè.

Tương tự đối với em Thái quan sát đường đồ thị chúng ta cũng thấy được sự thay đổi rõ rệt sau khi có tác động. Em đã biết lễ phép, vâng lời, không ngỗ nghịch thậm chí em đã hoàn toàn không còn thái độ không vâng lời và ngỗ nghịch và dần trở thành học sinh ngoan hiền.

            Tiếp tục ghi chép và theo dõi thì tôi nhận thấy cả hai em Lâm và Thái đều đã thay đổi hoàn toàn không còn là học sinh “cá biệt”: Các em đã biết vâng lời, lễ phép với thầy cô giáo, không ngỗ nghịch, không bắt nạt bạn bè và em nhỏ, chăm chỉ học bài, làm bài, không còn bị cờ đỏ trừ điểm thi đua, không còn gây gỗ với các bạn, biết nghe lời thầy cô giáo và cán bộ lớp hơn. Từ đó tôi thấy kết quả học tập của hai em cũng tiến bộ hơn.

Do vậy, thông qua việc giáo dục và rèn luyện đạo đức học sinh “cá biệt” bằng biện pháp quan tâm, động viên, giúp đỡ kết hợp cùng với phụ huynh theo dõi hằng ngày. Chúng ta đã làm thay đổi được hành vi, thái độ, lời nói của các em học sinh “cá biệt”.

 

BỔ SUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU NĂM HỌC 2014 - 2015

- Trong năm học 2014 - 2015 tôi tiếp tục theo dõi quan tâm, động viên, giúp đỡ hai em đến nay hai em đã hạn chế rõ rệt về hành vi không vâng lời và ngỗ nghịch.

* Thiết kế nghiên cứu:

Để làm rõ vấn đề nghiên cứu tôi tiếp tục chọn Thiết kế đa cơ sở AB.

Trong đó:

          -Agiai đoạn cơ sở (hiện trạng chưa có tác động/can thiệp).

          -Bgiai đoạn tác động/can thiệp.

Trong đề tài này, giai đoạn cơ sở (A) đối với hai em Lâm và Thái là khác nhau. Giai đoạn cơ sở (A) đối với Lâm là 03 ngày nhưng đối với Thái là 05 ngày.

* MÔ HÌNH THIẾT KẾ ĐA CƠ SỞ AB. (Năm học 2014 - 2015)

 

 

* Trình bày kết quả năm học 2014 - 2015:

- Số lần vi phạm bình quân lúc trước và sau tác động:

HỌ VÀ TÊN              HỌC SINH

TRƯỚC TÁC ĐỘNG

SAU TÁC ĐỘNG

Phạm Phúc Lâm

0,66 lần

0,25 lần

 

Nguyễn Anh Thái

0,8 lần

 0 lần 

 

 

* Phân tích dữ liệu:

Số lần không vâng lời và ngỗ nghịch của học sinh được biểu thị dưới dạng đồ thị thể hiện thái độ của Lâm và Thái trong giai đoạn cơ sở và giai đoạn có tác động. Nếu thái độ không vâng lời và ngỗ nghịch của học sinh được khắc phục thể hiện đường biểu diễn thấp hơn đường đồ thị trong giai đoạn cơ sở.

Quan sát đường đồ thị cho thấy hai học sinh đã có những biểu hiện tích cực, trong năm học 2014 - 2015 về cơ bản đã hạn chế rõ nét số lần không vâng lời và ngỗ nghịch trong ngày.

Chúng ta hãy nhìn vào đồ thị biểu thị số lần không vâng lời và ngỗ nghịch của em Lâm, giai đoạn cơ sở kéo dài 03 ngày, Lâm trung bình mỗi ngày có thái độ không vâng lời và ngỗ nghịch khoảng 0,66 lần. Tương tự chúng ta cũng nhìn vào đồ thị biểu thị số lần không vâng lời và ngỗ nghịch của em Thái, giai đoạn cơ sở kéo dài 05 ngày, Thái trung bình mỗi ngày có thái độ không vâng lời và ngỗ nghịch khoảng 0,8 lần.

Vậy chúng ta thấy bằng việc quan tâm, gần gũi, động viên, giúp đỡ trong đã có thể làm thay đổi hành vi không vâng lời và ngỗ nghịch của học sinh “cá biệt” một cách rõ rết qua hai năm học 2013 - 2014 và đến thời điểm hiện tại năm học 2014 - 2015 hai em đã là học sinh bình thường biết vâng lời thầy cô giáo, hòa nhã với bạn bè và việc học tập đã có nhiều tiến bộ.

Do vậy, một lần nữa tôi khẳng định thông qua việc giáo dục và rèn luyện đạo đức học sinh “cá biệt” bằng biện pháp quan tâm, động viên, giúp đỡ kết hợp cùng với phụ huynh theo dõi hằng ngày. Qua hai năm học chúng ta đã làm thay đổi được hành vi, thái độ, lời nói của các em học sinh “cá biệt”.

 

V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ:

1. Kết luận:

Việc giáo dục học và rèn luyện đạo đức học sinh “cá biệt” ở lớp 4A bằng biện pháp quan tâm, gần gũi, động viên, giúp đỡ tại Trường Tiểu học Ngân Sơn là có hiệu quả.

2. Khuyến nghị:

Đối với các cấp lãnh đạo: Cần đẩy mạnh xây dựng “Trường học thân thiện - Học sinh tích cực”, tổ chức nhiều phong trào vui chơi bổ ích thu hút sự tham gia của các em để tạo cảm giác gần gũi và thân thiết khi đến lớp từ đó giúp các em ngoan hơn.

Đối với Nhà trường: Cần có phương pháp giáo dục thích hợp, luôn quan tâm và kịp thời uốn nắn những hành vi và thái độ lệch lạc của học sinh “cá biệt”.

Đối với giáo viên: Khi giáo dục học sinh nên chọn phương pháp quan tâm, gần gũi, động viên, giúp đỡ để khắc phục tình trạng học sinh “cá biệt” trong lớp học cũng như trong Nhà trường.

Đối với gia đình: Cần quan tâm nhiều hơn nữa đến các em, có tri thức giáo dục con cái đúng đắn. Trong công tác nuôi dạy không nuông chiều thái quá  hoặc làm gương xấu cho con trẻ.

 

 

 

 

 

Xác nhận của cơ quan

 

Chí Thạnh, ngày 02 tháng 4 năm 2015

Người thực hiện

 

 

 

 

Đỗ Thanh Nhật

 

                                                                                     


VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO:

- Tài liệu tập huấn nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng của Bộ giáo dục và đào tạo (Dự án Việt - Bỉ).

- Tâm lí học lứa tuổi học sinh tiểu học.

- Thư viện trực tuyến Violet.

- Đề tài: “Nghiên cứu thực trạng giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học qua hoạt động ngoại khóa”. Tác giả: ThS. Vũ Minh Tuấn. 

- Đề tài: “Nghiên cứu về ảnh hưởng việc rèn luyện đạo đức học sinh cá biệt trong công tác chủ nhiệm”. Tác giả: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt.

- Đề tài: Nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm hợp tác trong giải toán có lời văn ở lớp 5 Trường tiểu học Hiệp Hòa”. Tác giả: Đào Văn Chung.

 


VII. PHỤ LỤC ĐỀ TÀI:

* Bảng theo dõi học sinh vi phạm: (Thái độ không vâng lời và ngỗ nghịch…).

 

Em:  PHẠM PHÚC LÂM

Ngày tháng

Số lần  vi phạm

Thái độ vi phạm

Người cung cấp thông tin

Ghi chú

01/03/2013

2

- Nói tục chửi thề                           - Đi tiểu không dội nước

- Đội cờ đỏ           - Cán sự lớp

 

02/03/2013

4

- Không vâng lời bố mẹ                 - Đánh nhau                                   - Hái trộm trái cây                                   - Bắt nạt em nhỏ

- Phụ huynh HS   - Bạn học             - Bạn học             - Phụ huynh HS

 

03/03/2013

3

- Nói dối bố mẹ đi chơi game        - Nói tục chửi thề                     

- Phụ huynh HS   - Bạn học

 

04/03/2013

4

- Làm vỡ cửa kính                          - Phá hoại của công                        - Để xe không đúng nơi quy định              - Quên mang dụng cụ học tập

- Cán sự lớp         - Đội cờ đỏ           - Đội cờ đỏ                - Giáo viên CN

 

05/03/2013

2

- Quên mang dụng cụ học tập        - Không truy bài đầu giờ

- Giáo viên BM    - Đội cờ đỏ

 

06/03/2013

3

- Nói dối bố mẹ                              - Rửa tay không khóa vòi nước     - Xé vở khi bị điểm thấp

- Phụ huynh HS    - Bạn học             - Giáo viên CN

 

07/03/2013

2

- Phá hoại của công                        - Làm mất trật tự trong giờ học

- Đội cờ đỏ           - Giáo viên BM

 

08/03/2013

4

- Không trực nhật                           - Vứt rác không đúng nơi quy định                         - Không làm bài tập ở nhà             - Nói tục chửi thề

- Cán sự lớp         - Đội cờ đỏ           - Giáo viên CN    - Bạn học    

 

09/03/2013

4

- Vứt cặp sách bừa bãi                   - Không chào hỏi người lớn tuổi    - Đánh nhau                                   - Gây rối không cho bạn chơi

- Phụ huynh HS   - Phụ huynh HS  - Bạn học            - Bạn học

 

10/03/2013

3

- Đá bóng trên lòng đường             - Không vâng lời bố mẹ                 - Bắt nạt em nhỏ   

- Bạn học             - Phụ huynh HS   - Phụ huynh HS 

 

11/03/2013

3

- Chào cờ không nghiêm túc          - Không truy bài đầu giờ                - Tập thể dục không nghiêm túc

- TPT Đội            - Cán sự lớp         - Đội cờ đỏ 

 

12/03/2013

1

- Không mang dép có quai hậu

- Đội cờ đỏ 

 

13/03/2013

1

- Không thuộc bài

- Giáo viên CN

 

14/03/2013

2

- Không đeo khăn quàng                - Làm mất trật tự trong giờ học

- Cán sự lớp         - Giáo viên BM  

 

15/03/2013

0

//

- Giáo viên CN

 

16/03/2013

2

- Đá bóng trên lòng đường             - Bắt nạt em nhỏ

- TPT Đội            - Phụ huynh HS

 

17/03/2013

1

- Không chào hỏi người lớn tuổi

- Bạn học

 

18/03/2013

2

- Không trực nhật lớp                       - Không đeo khăn quàng

- Cán sự lớp         - Đội cờ đỏ

 

19/03/2013

1

- Làm mất trật tự trong giờ học

- Giáo viên BM

 

20/03/2013

1

- Đi học học muộn

- Giáo viên CN

 

21/03/2013

1

- Hát múa không nghiêm túc

- Đội cờ đỏ

 

22/03/2013

2

- Chạy xe trong sân trường            - Nói tục chửi thề

- TPT Đội            - Cán sự lớp 

 

23/03/2013

0

//

- Phụ huynh HS

 

24/03/2013

1

- Bắt nạt em nhỏ

- Bạn học

 

25/03/2013

0

//

- Giáo viên CN

 

26/03/2013

1

- Không bỏ áo trong quần

- Đội cờ đỏ

 

* Người cung cấp thông tin: Giáo viên chủ nhiệm (Giáo viên CN), giáo viên bộ môn (Giáo viên BM), đội cờ đỏ, cán sự lớp, Tổng phụ trách Đội (TPT Đội), phụ huynh học sinh (Phụ huynh HS), bạn học.

 

* Bảng theo dõi học sinh vi phạm: (Thái độ không vâng lời và ngỗ nghịch…).

 

Em:  NGUYỄN ANH THÁI

Ngày tháng

Số lần  vi phạm

Thái độ vi phạm

Người cung cấp thông tin

Ghi chú

01/03/2013

1

- Đi tiểu không dội nước

- Đội cờ đỏ          

 

02/03/2013

3

- Đánh nhau                                   - Nói tục chửi thề                                   - Bắt nạt em nhỏ

- Bạn học             - Bạn học             - Phụ huynh HS

 

03/03/2013

4

- Đánh nhau                                   - Gây rối không cho bạn chơi        - Vứt cặp sách bừa bãi                   - Không chào hỏi người lớn tuổi   

- Bạn học            - Bạn học           - Phụ huynh HS   - Phụ huynh HS 

 

04/03/2013

2

- Để xe không đúng nơi quy định              - Quên mang dụng cụ học tập

- Đội cờ đỏ                - Giáo viên CN

 

05/03/2013

4

- Đá bóng trên lòng đường             - Quên mang dụng cụ học tập        - Không truy bài đầu giờ                - Không mang dép có quai hậu

- Giáo viên BM    - Đội cờ đỏ          - Cán sự lớp       - Đội cờ đỏ      

 

06/03/2013

2

- Phá hoại của công                        - Làm mất trật tự trong giờ học

- Đội cờ đỏ           - Giáo viên BM

 

07/03/2013

3

- Nói dối bố mẹ                              - Rửa tay không khóa vòi nước     - Xé vở khi bị điểm thấp

- Phụ huynh HS    - Bạn học             - Giáo viên CN

 

08/03/2013

1

- Nói tục chửi thề

- Cán sự lớp        

 

09/03/2013

3

- Vứt cặp sách bừa bãi                   - Không chào hỏi người lớn tuổi    - Đánh nhau                                  

- Phụ huynh HS   - Phụ huynh HS  - Bạn học           

 

10/03/2013

2

- Không vâng lời bố mẹ                 - Bắt nạt em nhỏ   

- Phụ huynh HS   - Bạn học            

 

11/03/2013

3

- Chào cờ không nghiêm túc          - Không truy bài đầu giờ                - Tập thể dục không nghiêm túc

- TPT Đội            - Cán sự lớp         - Đội cờ đỏ 

 

12/03/2013

3

- Không trực nhật                           - Vứt rác không đúng nơi quy định                         - Không làm bài tập ở nhà            

- Đội cờ đỏ           - Giáo viên CN    - Bạn học    

 

13/03/2013

2

- Đá bóng trên lòng đường             - Bắt nạt em nhỏ

- TPT Đội            - Phụ huynh HS

 

14/03/2013

4

- Không thuộc bài                          - Không đeo khăn quàng                - Làm mất trật tự trong giờ học      - Gây rối không cho bạn chơi

- Giáo viên CN  - Cán sự lớp         - Giáo viên BM  - Bạn học

 

15/03/2013

3

- Hát múa không nghiêm túc         - Không bỏ áo trong quần              - Nói tục chửi thề

- Đội cờ đỏ         - Đội cờ đỏ         - Cán sự lớp      

 

16/03/2013

0

//

- Phụ huynh HS

 

17/03/2013

1

- Bắt nạt em nhỏ

- Bạn học

 

18/03/2013

1

- Không trực nhật lớp                      

- Cán sự lớp        

 

19/03/2013

2

- Không đeo khăn quàng                - Làm mất trật tự trong giờ học

- Đội cờ đỏ         - Giáo viên BM

 

20/03/2013

1

- Đi học học muộn

- Giáo viên CN

 

21/03/2013

0

//

- Giáo viên CN

 

22/03/2013

1

- Chạy xe trong sân trường           

- TPT Đội           

 

23/03/2013

1

- Không chào hỏi người lớn tuổi

- Bạn học

 

24/03/2013

0

//

- Phụ huynh HS

 

25/03/2013

0

//

- Giáo viên CN

 

26/03/2013

0

//

- TPT Đội           

 

 

* Người cung cấp thông tin: Giáo viên chủ nhiệm (Giáo viên CN), giáo viên bộ môn (Giáo viên BM), đội cờ đỏ, cán sự lớp, Tổng phụ trách Đội (TPT Đội), phụ huynh học sinh (Phụ huynh HS), bạn học.

 

BỔ SUNG PHỤ LỤC ĐỀ TÀI NĂM HỌC 2014 - 2015

* Bảng theo dõi học sinh vi phạm: (Thái độ không vâng lời và ngỗ nghịch…).

Em: PHẠM PHÚC LÂM (Lớp 5A)

Ngày tháng

Số lần  vi phạm

Thái độ vi phạm

Người cung cấp thông tin

Ghi chú

01/03/2014

0

//

- Phụ huynh HS  

 

02/03/2014

2

- Không vâng lời bố mẹ

- Bắt nạt em nhỏ

- Phụ huynh HS

- Bạn học            

 

03/03/2014

0

//

- TPT Đội

 

04/03/2014

1

- Để xe không đúng nơi quy định             

- Cán sự lớp         - Giáo viên CN

 

05/03/2014

0

//

- Giáo viên CN  - Đội cờ đỏ

 

06/03/2014

0

//

- TPT Đội

- Giáo viên CN

 

07/03/2014

0

//

- Giáo viên CN

- Bạn học

 

* Người cung cấp thông tin: Giáo viên chủ nhiệm (Giáo viên CN), giáo viên bộ môn (Giáo viên BM), Tổng phụ trách Đội (TPT Đội), phụ huynh học sinh (Phụ huynh HS), Đội cờ đỏ, bạn học.

 

* Bảng theo dõi học sinh vi phạm: (Thái độ không vâng lời và ngỗ nghịch…).

Em: NGUYỄN ANH THÁI (Lớp 5A).

Ngày tháng

Số lần  vi phạm

Thái độ vi phạm

Người cung cấp thông tin

Ghi chú

24/03/2014

2

- Gây rối không cho bạn chơi     

- Không vâng lời bố mẹ

- Bạn học 

- Phụ huynh HS     

 

25/03/2014

0

//

- TPT Đội             - Phụ huynh HS

 

26/03/2014

1

- Gây rối không cho bạn chơi       

- Bạn học           

 

27/03/2014

0

//

- Giáo viên CN

 

28/03/2014

1

- Không truy bài đầu giờ               

- Cán sự lớp      

 

29/03/2014

0

//

- Phụ huynh HS   

 

30/03/2014

0

//

- Phụ huynh HS   

 

 

* Người cung cấp thông tin: Giáo viên chủ nhiệm (Giáo viên CN), Tổng phụ trách Đội (TPT Đội), phụ huynh học sinh (Phụ huynh HS), Cán sự lớp, bạn học.

 

 

 

 


Nguồn:nganson-tuyan.phuyen.edu.vn Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 3
Hôm qua : 95
Tháng 01 : 147
Năm 2021 : 147